Tổng hợp các khung hình phạt về tội đánh bạc

11:23 - 05/11/2019

Có thể thấy rằng, tội đánh bạc là một trong những tội danh phổ biến nhất xảy ra trên thực tế, cả ở khu vực nội thành hay ngoại thành, với mọi đối tượng, kể cả là những cán bộ, công chức nhà nước. Vậy tội đánh bạc cụ thể là gì, đánh bạc từ bao nhiêu tiền trở lên thì  mới phạm tội này, khung hình phạt của nó ra sao và được quy định như thế nào theo bộ luật hình sự hiện hành (BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017). Bài viết dưới đây sẽ đi phân tích làm rõ cho bạn đọc các nội dung xung quanh về tội đánh bạc theo pháp luật hiện hành. 

Nếu quý khách có nhu cầu tư vấn luật hình sự miễn phí hãy liên hệ tổng đài 19006213 của luật DFC để được giải đáp tất cả thắc mắc về luật hình sự, cũng như tội đánh bác.

1. Căn cứ pháp lý luật hình sự quy định về tội đánh bạc

Về căn cứ pháp lý: Tội đánh bạc được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), theo đó:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”

Tội đánh bạc là gì? đánh bạc bao nhiêu tiền thì bị khởi tố?

Cụ thể, để hiểu rõ thế nào là tội đánh bạc. ta đi phân tích các yếu tố cấu thành tội đánh bạc, cụ thể như sau:

Về chủ thể: Người phạm tội đánh bạc phải từ đủ 16 tuổi trở lên (căn cứ theo Điều 12 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017) và người phạm tội đánh bạc phải có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ (có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi…)

Về mặt chủ quan: Tội đánh bạc được thực hiện bẳng Lỗi cố ý 

Về khách thể: Tội đánh bạc làm xâm phạm đến trật tự công cộng

Về mặt khách quan:

Hành vi khách quan của tội đánh bạc chính là: “Đánh bạc trái phép”, có nghĩa là tất cả các hành vi được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được pháp luật cho phép (Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 258 và Điều 249 Bộ luật hình sự) 

Tuy nhiên, bạn đọc cần lưu ý rằng, không phải mọi hành vi đánh bạc trái phép nào cũng sẽ đều bị xử lý hình sự mà chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự tội đánh bạc khi hành vi đó thỏa mãn thêm một trong các điều kiện sau: 

- Một là, tiền hay hiện vật dùng để đánh bạc trái phép phải có giá trị trên 5.000.000 đồng

- Hai là, tiền hay giá trị hiện vật đánh bạc có giá trị dưới 5.000.000 đồng nhưng người thực hiện hành vi đánh bạc: Hoặc là đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi tổ chức đành bạc, gá bạc; Hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội tổ chức đánh bạc, gá bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Đồng thời, cần chú ý khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi đánh bạc thì không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc cụ thể để xem xét xác định trách nhiệm hình sự, nội dung này được hướng dẫn cụ thể trong Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 258 và Điều 249 Bộ luật hình sự (vẫn còn giá trị tham khảo) 

2. Khung hình phạt tội đánh bạc

Khung hình phạt với tội đánh bạc dựa theo nhiều yếu tố, như hành vi, mức độ, giá trị số tiền đánh bạc, để  quý khách có thể hiểu cụ thể hơn sau đây DFC xin chia sẻ 1 cách cụ thể nhất cho từng vụ việc khác nhau.

2.1 Phạm tội đánh bạc lần đầu

Trường hợp đánh bạc lần đầu và có giá trị dưới 5 triệu: thì chỉ bị xử lý vi phạm hành chính theo Điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP; cụ thể phạt sẽ bị cảnh cáo hoặc phạt tiền, số tiền phạt tối đa có thể lên đến 20 triệu đồng, tùy thuộc vào số tiền đánh bạc, và hành vi đánh bạc trái phép (như có rủ rê, lôi kéo người khác không, có tổ chức mạng lưới bán số lô, số đề không)

Trường hợp đánh bạc lần đầu và có giá trị từ 5 triệu đến dưới 50 triệu thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm

Trường hợp đánh bạc lần đầu và có giá trị trên 50 triệu thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 7 năm

2.2 Đánh bạc có tính chất chuyên nghiệp

Phạm tội đánh bạc có tính chất chuyên nghiệp thì bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm

Cần chú ý "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" có nghĩa là phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện sau đây (căn cứ theo khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật hình sự Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao):

Một là, người phạm tội đánh bạc cố ý phạm tội từ 5 lần trở lên về cùng tội đánh bạc, không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích;

Hai là, người phạm tội đánh bạc đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Hình phạt bổ sung: Ngoài các khung hình phạt chính như trên thì người phạm tội đánh bạc còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng tùy vào nguyên nhân, điều kiện, hành vi thực hiện tội đánh bạc.

2.3  Hình phạt về tội chứa chấp đánh bạc

Theo quy định của pháp luật thì Người nào tổ chức, sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên mà số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên thì bị phạt tiền từ 50 triệu đến 300 triệu hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm (Điều 322 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017)

3. Hình thức bảo lãnh tội đánh bạc

Người từ đủ 18 tuổi trở lên, có nhân thân tối, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và có điều kiện quản lý người đánh bạc thì có thể được xem xét bảo lãnh cho người đánh bạc và trong trường hợp này cần ít nhất hai người đứng ra bảo lãnh. Hai người này phải viết giấy cam đoan có xác nhận của chính quyền địa phương.

Ngoài ra, người đánh bạc có thể đặt tiền để bảo đảm, từ đó thay thế cho việc phải tạm giam tại các cơ sở giam giữ, nếu thỏa mãn những điều kiện luật định (về nhân thân, về tài sản, về mức độ, hành vi phạm tội…)

4. Dịch vụ tư vấn và trực tiếp tham gia bào chữa của Công ty luật DFC

Để được tư vấn làm rõ hơn những nội dung, vấn đề theo những tình huống cụ thể trên thực tế về tội đánh bạc hoặc xung quanh tội đánh bạc, bạn đọc có thể liên hệ đến Tổng đài số 1900 6213 và nhấn phím 3 để được luật sư DFC tư vấn miễn phí, giải đáp mọi khó khăn, vướng mắc.

Trong trường hợp cần thiết, bạn đọc có thể đặt lịch hẹn gặp luật sư DFC trực tiếp tại văn phòng. Đồng thời, Luật sư DFC sẵn sàng trực tiếp tham gia với vai trò luật sư bào chữa để tìm kiếm những căn cứ, tình tiết giảm nhẹ để có thể bào chữa cho người phạm tội đánh bạc được hưởng khung hình phạt, mức án nhẹ nhất hoặc hưởng án treo, tùy vào điều kiện cụ thể.

Lời kết: Như vậy, bài viết trên đây đã chỉ ra cho bạn đọc những vấn đề cơ bản về tội đánh bạc, cụ thể làm rõ vấn đề tội đánh bạc là gì, khung hình phạt như thế nào, đồng thời cung cấp thông tin cho bạn đọc về dịch vụ tư vấn và trực tiếp tham gia bào chữa của Công ty luật DFC, công ty luật uy tín hàng đầu, đặc biệt là về lĩnh vực luật hình sự, trong đó có bào chữa về tội đánh bạc. Mong bài viết phần nào giúp ích cho bạn đọc!

Mức phạt của tội làm giấy tờ giả và làm con dấu giả?
Vay nợ tiền không trả phạm tội gì
Cách tính thời hạn tạm giam trong tất cả các giai đoạn
Tội nhận hối lộ và đưa hôi lộ bị xử phạt như thế nào
Yếu tố cấu thành tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng